Bộ Xây dựng vừa có ý kiến góp ý đối với dự án thành phần 3, gồm cầu và hầm vượt biển thuộc dự án đường vượt biển kết nối Cần Giờ - Vũng Tàu. Đây là hạng mục phức tạp nhất của toàn tuyến, đang được nhà đầu tư và đơn vị tư vấn hoàn thiện báo cáo nghiên cứu khả thi.

Theo Bộ Xây dựng, công trình có quy mô rất lớn, phức tạp về kỹ thuật, thời gian khai thác có thể kéo dài hàng trăm năm và tác động trực tiếp đến hoạt động của hệ thống cảng biển khu vực TP.HCM, Đồng Nai và Tây Ninh. Bộ đã chỉ đạo Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam thành lập tổ công tác để nghiên cứu, đánh giá hồ sơ, đồng thời lấy ý kiến các cơ quan, đơn vị và hiệp hội liên quan.

Dự án đường vượt biển Cần Giờ - Vũng Tàu có chiều dài khoảng 14,06 km, quy mô 6 làn xe, gồm hơn 8 km cầu vượt biển và khoảng 3,85 km hầm vượt biển. Ngày 1/7, TP.HCM đã khởi công dự án thành phần 1, là tuyến đường dẫn phía Cần Giờ. Trong khi đó, dự án thành phần 3 đang tiếp tục hoàn thiện báo cáo nghiên cứu khả thi để trình TP.HCM xem xét, phê duyệt.

Một nội dung được Bộ Xây dựng xem xét là cơ sở dự báo nhu cầu hàng hóa để tính toán lưu lượng tàu qua khu vực vịnh Gành Rái. Theo hồ sơ tư vấn, lượng hàng hóa dự báo đến năm 2125 khoảng 2,67 tỷ tấn/năm được sử dụng làm đầu vào tính toán.

Theo Bộ Xây dựng, giá trị này được xác định trên cơ sở cân đối giữa nhu cầu hàng hóa dự báo và giới hạn công suất tối đa có khả năng phát triển của hệ thống cảng biển phía trong luồng. Bộ đánh giá đề xuất của tư vấn có cơ sở, đồng thời yêu cầu tiếp tục rà soát, cập nhật quy hoạch phát triển cảng biển, xu hướng phát triển đội tàu, cơ cấu hàng hóa và năng lực thông qua của hệ thống cảng.

Về loại và cỡ tàu tính toán, dự án đã nghiên cứu nhiều phương án và xu hướng phát triển đội tàu thế giới trong tầm nhìn 100 năm. Bộ Xây dựng thống nhất với đề xuất sử dụng tàu container đến 32.000 TEU và tàu dầu thô đến 300.000 tấn, có xét đến điều kiện thủy triều, để phục vụ tính toán.

Hồ sơ đề xuất tuyến luồng gồm 4 làn, rộng khoảng 1.000 m. Trong đó, 2 làn chính rộng 285 m mỗi làn dành cho tàu đến 32.000 TEU; 2 làn hai bên rộng 215 m mỗi làn dành cho tàu đến 80.000 tấn. Quy mô này được tính toán để đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hóa khoảng 2,67 tỷ tấn/năm vào năm 2125, với lưu lượng khoảng 589 lượt tàu mỗi ngày đêm.

Đối với khoảng cách giữa đáy luồng tàu và đỉnh lớp bảo vệ hầm dìm, Bộ Xây dựng cho biết hiện chưa có quy định cứng về một giá trị khoảng cách cụ thể. Khoảng cách này cần được xác định trên cơ sở tổng hợp các yếu tố như dự báo độ sâu bồi xói, ổn định chống nổi, tác động của neo rơi, neo kéo, tàu và các rủi ro hàng hải liên quan.

Do đó, Bộ đề nghị đơn vị tư vấn bổ sung các phân tích định lượng để xác định khoảng cách an toàn, từ đó đề xuất khoảng cách phù hợp giữa đáy luồng và đỉnh lớp bảo vệ hầm dìm. Yêu cầu này nhằm bảo đảm an toàn công trình trong quá trình thi công và khai thác.

Bộ Xây dựng cũng đề nghị đánh giá đầy đủ tác động của hai đảo nhân tạo, hầm dìm và công trình cầu đối với điều kiện hàng hải, thủy động lực và bồi xói. Theo hồ sơ, tư vấn đã bổ sung mô hình thủy động lực để đánh giá, so sánh các kịch bản trước và sau khi xây dựng công trình.

Báo cáo nghiên cứu khả thi đồng thời cập nhật số liệu đo sâu và diễn biến bồi lắng trong giai đoạn 2016-2026, trong đó phân tích riêng giai đoạn 2025-2026, thời điểm không thực hiện công tác nạo vét.

Để đánh giá đầy đủ điều kiện khai thác, vận hành và bảo trì trong suốt vòng đời công trình, Bộ Xây dựng đề nghị chủ đầu tư và tư vấn tiếp tục làm rõ, lượng hóa chi phí đầu tư, duy tu, bảo trì đối với cầu, hầm, luồng hàng hải và các công trình liên quan.

Đối với luồng đường thủy nội địa qua khu vực dự án, hồ sơ đề xuất tuyến luồng phục vụ phà, tàu cao tốc và phương tiện thủy qua vịnh Gành Rái. Cầu vượt biển được bố trí 2 khoang thông thuyền, mỗi khoang rộng tối thiểu 120 m, chiều cao tĩnh không thông thuyền tối thiểu 11 m, tương đương yêu cầu đối với đường thủy nội địa cấp I.

Bộ Xây dựng đánh giá phương án này phù hợp, đồng thời đề nghị tư vấn tiếp tục cập nhật xu thế phát triển về loại, cỡ phương tiện, lưu lượng vận tải hiện tại và nhu cầu trong tương lai. Tư vấn cũng được yêu cầu xác định tần suất mực nước để tính toán tĩnh không cầu theo quy định và nghiên cứu giải pháp phối hợp giữa luồng hàng hải với các tuyến đường thủy nội địa trong quá trình khai thác.