Tại phiên thảo luận ở hội trường sáng 6/11 về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và Luật Thuế thu nhập cá nhân, đề xuất áp dụng thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng nhận được nhiều ý kiến góp ý.

Các đại biểu cơ bản đồng tình với việc sử dụng công cụ thuế để hạn chế tình trạng đầu cơ, găm giữ đất đai và thúc đẩy đưa đất vào khai thác hiệu quả. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng chính sách cần phân định rõ nguyên nhân khiến đất chưa được sử dụng, tránh áp dụng cùng một mức thuế đối với những trường hợp có bản chất khác nhau.

Đại biểu Tô Ái Vang (đoàn Cần Thơ) nhận định quy định hiện nay có nguy cơ đánh đồng đất bị bỏ hoang do đầu cơ, tích trữ với diện tích không thể khai thác vì nguyên nhân khách quan như thiên tai, biến đổi khí hậu. Theo bà, nếu không có cơ chế phân loại phù hợp, chính sách có thể gây thiệt thòi cho người dân, nhất là tại những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu.

Đại biểu đề nghị bổ sung trường hợp loại trừ đối với đất không thể đưa vào sử dụng do thiên tai, biến đổi khí hậu hoặc các nguyên nhân bất khả kháng khác, với điều kiện được chính quyền cấp xã xác nhận. Bà cũng kiến nghị xây dựng cơ chế miễn, giảm thuế đối với đất nông nghiệp và đất nông nghiệp hoang hóa tại những địa bàn chịu tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu, nhằm bảo đảm chính sách thuế không tạo thêm gánh nặng cho sinh kế người dân.

Cùng quan điểm cần có tiêu chí cụ thể, đại biểu Dương Khắc Mai (đoàn Lâm Đồng) cho rằng việc xác định đất không đưa vào sử dụng phải căn cứ vào quy định của pháp luật đất đai. Trên thực tế, một số dự án chậm triển khai không xuất phát từ lỗi của người sử dụng đất mà do vướng giải phóng mặt bằng, bàn giao đất, thủ tục hành chính, điều chỉnh quy hoạch hoặc các trường hợp bất khả kháng.

Vì vậy, ông đề nghị cơ quan có thẩm quyền phải xác định bằng văn bản tình trạng và thời gian đất không được đưa vào sử dụng, đồng thời thông báo để người sử dụng đất có cơ hội giải trình trước khi áp dụng mức thuế 0,2%. Việc này nhằm hạn chế tình trạng mỗi địa phương hiểu và áp dụng tiêu chí theo một cách khác nhau.

Một vấn đề khác được đại biểu Nguyễn Văn Huy (đoàn Hưng Yên) lưu ý là cách xác định diện tích chịu thuế đối với những thửa đất lớn hoặc dự án được triển khai theo nhiều giai đoạn. Có trường hợp một phần diện tích đã được sử dụng đúng mục đích, trong khi phần còn lại chưa được khai thác hoặc đang tiếp tục triển khai.

Theo đại biểu, nếu căn cứ vào tình trạng chung của cả thửa đất hoặc toàn bộ dự án để áp thuế suất 0,2%, phần diện tích đã được sử dụng hiệu quả cũng có thể bị tính thuế ở mức cao. Ông đề nghị chỉ áp dụng mức thuế này đối với phần diện tích thực tế bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng; phần đất đã được khai thác đúng mục đích cần áp dụng mức thuế tương ứng theo quy định.

Theo phương án Chính phủ trình, dự thảo luật bổ sung quy định áp dụng thuế suất 0,2% và không áp dụng hạn mức đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng. Việc xác định các trường hợp này được dẫn chiếu theo quy định của pháp luật đất đai. Chính sách nhằm tăng chi phí đối với hành vi găm giữ đất, qua đó khuyến khích sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai.

Những ý kiến tại nghị trường cho thấy yêu cầu quan trọng khi xây dựng chính sách không chỉ là tăng mức thuế để hạn chế đầu cơ, mà còn phải xác định đúng đối tượng và nguyên nhân vi phạm. Việc phân loại rõ diện tích đất, thời gian chậm sử dụng và trách nhiệm của người sử dụng đất sẽ góp phần bảo đảm tính công bằng, khả thi khi quy định được triển khai.