Căn hộ mua trả góp trước khi cưới: tài sản chung hay riêng?

Lan Anh

Trước khi kết hôn, tôi có mua căn hộ theo hình thức vay trả góp. Sau khi tự thân trả được một nửa thì tôi lấy vợ. Hai vợ chồng cùng nhau trả nốt khoản còn lại, đến nay đã hoàn toàn trả xong. Như vậy theo pháp luật thì căn hộ có phải là tài sản của cá nhân tôi không? Nếu ly hôn tôi phải chia tài sản này như thế nào?

Kết hôn là sự kiện làm phát sinh quan hệ hôn nhân và các chế độ pháp lý của vợ chồng. Trước khi đi thẳng vào trả lời câu hỏi trên, mời bạn điểm qua một số nội dung về chế độ tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành.

Chế độ tài sản chung, riêng của vợ và chồng

Chế độ tài sản của vợ chồng có thể hiểu là tổng hợp các quy định điều chỉnh về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng như việc xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, chia tài sản giữa vợ và chồng…

Về cơ bản tài sản của vợ chồng được xác định dựa trên hai căn cứ: (a) Sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng (chế độ tài sản theo thỏa thuận) và (b) theo các quy định của pháp luật (chế độ tài sản theo luật định), trong đó:

(a) Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận

Đây là việc vợ chồng thỏa thuận với nhau bằng văn bản về việc xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với tài sản của họ. Luật HN&GĐ quy định rõ điều kiện để văn bản thỏa thuận có hiệu lực (các điều 47, 48, 49, 50 và 59 của Luật HN&GĐ).

tai-san-chung-rieng-vo-chong-min-1669006539.jpeg
Về cơ bản tài sản của vợ chồng được xác định dựa trên thỏa thuận bằng văn bản và theo các quy định của pháp luật

Ví dụ như: Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng phải được lập bằng văn bản trước khi kết hôn, được công chứng hoặc chứng thực. Nếu không thỏa các điều kiện này thì thỏa thuận có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu khi có yêu cầu của một trong các bên. Và theo đó, khi ly hôn, tài sản sẽ được chia theo thỏa thuận đó (khoản 1 Điều 59 Luật HN&GĐ).

(b) Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định

Hình thức này chỉ được áp dụng trong trường hợp vợ chồng không lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc có thỏa thuận nhưng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu. Vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung (thỏa thuận phải được lập bằng văn bản và được công chứng), nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi đó, Tòa án sẽ giải quyết trên nguyên tắc chia đôi nhưng có xem xét một số yếu tố để đảm bảo lợi ích chính đáng của một bên (khoản 2, 3, 4, 5 Điều 59 Luật HN&GĐ).

Mục 2 và 3 bên dưới sẽ trình bày rõ hơn về chế độ tài sản theo luật định.

Tài sản riêng của vợ, chồng

Tài sản riêng của vợ, chồng được quy định tại Điều 38, 39, 40, 42, 43 Luật HN&GĐ, bao gồm:
Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn;
Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân;
Tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo thỏa thuận hoặc luật định;
Tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung
Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng;
Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng;
Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân;
Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ;
Tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác;
Khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng.

Tài sản chung của vợ chồng

Tài sản chung của vợ chồng được quy định tại Điều 33, 38, 39, 40, 42, 43 Luật HN&GĐ, bao gồm:
Tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân;
Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân;
Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân;
Thu nhập hợp pháp khác (như tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp,...) trong thời kỳ hôn nhân;
Phần tài sản còn lại trong trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân;
Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung;
Tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Tài sản mà không có căn cứ để chứng minh là tài sản riêng của vợ, chồng.

Việc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn được quy định cụ thể tại Điều 59 Luật HN&GĐ và Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được về việc phân chia tài sản, thì về nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi.

Tuy nhiên, có xét đến các yếu tố sau nhằm xác định sự chênh lệch về tài sản mà vợ, chồng được chia (nếu có): Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung; bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng.

Cách xác định tài sản chung hay riêng của vợ chồng

Vậy căn hộ mua trả góp ở tình huống ban đầu là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của chồng? Khi ly hôn thì chia tài sản như thế nào?

Dựa trên những quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, vợ chồng bạn cần có thỏa thuận (trước và trong thời kỳ hôn nhân) rằng căn hộ là tài sản chung hay riêng. Nếu bạn không có bằng chứng chứng minh rằng căn hộ là tài sản riêng của bạn (chứng cứ giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đứng tên bạn không đủ mạnh, xem thêm lý giải bên dưới) thì Tòa án sẽ suy đoán đây là tài sản chung của vợ chồng (khoản 3 Điều 33 Luật HN&GĐ).

can-ho-mua-truoc-hon-nhan-1668992979.jpeg
Vợ chồng bạn cần có có thỏa thuận (trước và trong thời kỳ hôn nhân) rằng căn hộ là tài sản chung hay riêng.

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP, trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng, nếu không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của vợ chồng; nếu có tranh chấp là tài sản riêng thì người có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng minh được tài sản này do được thừa kế riêng, được tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản này có được từ nguồn tài sản riêng (ví dụ: được thừa kế riêng một khoản tiền và dùng khoản tiền này mua cho bản thân một chiếc xe môtô mà không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng).

Trong trường hợp không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là tài sản riêng thì tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng.

Theo đó, căn hộ sẽ được suy đoán là tài sản chung của vợ chồng. Khi chia tài sản, Tòa án sẽ giải quyết trên nguyên tắc chia đôi nhưng có xem xét yếu tố “công sức đóng góp” của mỗi bên. Tình huống này, bạn đã tự thân trả được một nửa giá trị căn hộ nên bạn sẽ được hưởng nhiều hơn một nửa giá trị của căn hộ.

Tham khảo thêm thông tin pháp lý về chế độ tài sản của vợ và chồng tại:
Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
Nghị định 126/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình;
 

Tuấn Khôi